Tin tức nghiên cứu

NHÂN TÀI TUỒNG QUẢNG NAM – GIÁ TRỊ VĨNH CỬU

31 Tháng Mười 2018          62 lượt xem

1. Trong chiều dài lịch sử phát triển, tuồng Quảng Nam hội tụ nhiều nhân tài và các nhân tài đó sống trong tâm thức dân gian như những huyền thoại.

Đó là danh nhân Nguyễn Hiển Dĩnh (1853-1926), còn gọi là cụ Tuần An Quán, quê ở An Quán, Điện Bàn – nhà hoạt động sân khấu tuồng lỗi lạc, được ví là “người thầy của những bậc thầy trong ngành tuồng”, đã sáng tác hàng chục vở tuồng thầy và tuồng đồ đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật, nghiên cứu lý luận, chỉ đạo và tổ chức dàn dựng các vở tuồng, thành lập Trường hát Vĩnh Điện, huấn luyện và đào tạo diễn viên, trong đó nhiều học trò của ông trở thành bậc thầy của sân khấu tuồng cả nước như Đội Tảo (Nguyễn Nho Túy), Chánh Đệ, Chánh Phẩm (Nguyễn Phẩm), Văn Phước Khôi, Sáu Lai (Nguyễn Lai), Nguyễn Thùy, Nhưng Sơn…

Đó là nghệ nhân Phó Bật (ở Đa Hòa, Điện Bàn) và Nguyễn Đình Chi (ở Bình Cư, Đại Lộc), vào thời Nguyễn, nổi tiếng về tài nghệ đánh chầu. Nếu tiếng trống của ông Phó Bật sắc sảo, tươi vui và nghiêm khắc đến mức có lần một diễn viên hát quá sai, ông gõ một tiếng phê bình khiến người đó về hóa câm, hai năm sau mới hát được; thì tiếng trống của ông Nguyễn Đình Chi lại thanh thoát, giòn dã, khích lệ mạnh mẽ diễn viên và tác phong đánh chầu của ông nhiệt thành, hào hoa “như múa trên mặt trống”(1).

Đó là nghệ nhân tên là Sừng (ở vùng Đại Bình – Trung Phước, Quế Sơn) trong gánh hát Phó Phương nổi tiếng vai đào, diễn giỏi, hát hay đến mức dân gian có câu: “Dù cho nhịn đói ăn rau, Cũng coi cho được con đào Phó Phương”.

Đó là nghệ nhân Nhưng Đá (ở Quế Sơn) và Nhưng Nguyên (ở Điện Bàn) diễn vai Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân xuất sắc đến mức được vua Thành Thái khẩu phong là “thế thượng vô song”, “nhân gian đệ nhất”.

Đó là các nghệ nhân Quản Lan, Cửu Vị (thân sinh ông Chánh Phẩm), Thập Quảng (thân sinh ông Đội Tảo) quê ở Tam Kỳ, nổi danh tài nghệ, được vua biết tiếng, triệu vào cung chuyên diễn tuồng phục vụ triều đình. Trong đó, nghệ nhân Quản Lan là người được vua phong chức Chánh quản ca đầu tiên và cũng là người thành lập trường hát đầu tiên của tỉnh Quảng Nam ở Tam Kỳ.

Đó là nghệ nhân Quyền Ngữ (ở làng Phong Thử, Điện Bàn) có tài năng biểu diễn đôi mắt xuất thần, được vua quan triều Nguyễn tặng danh hiệu “Bích nhãn nhi” và phong chức Quyền phó ca.

Đó là các học trò kiệt xuất của danh nhân Nguyễn Hiển Dĩnh, trong đó có năm người được nhân dân xếp vào “Ngũ mỹ” (Năm người đóng tuồng giỏi nhất xứ Quảng): lão văn ông Phẩm; lão võ ông Đệ; kép ông Tảo; nịnh ông Lai; tướng ông Thùy và riêng NSND Nguyễn Nho Túy được ca ngợi là "Con rồng sống trên sân khấu” với trình độ sử dụng đôi hia đạt đến mức “điêu luyện”, “tuyệt mỹ”, “nhập thần”, còn NSND Nguyễn Lai có khả năng diễn xuất đa diện lỗi lạc với 36 kiểu cười nổi tiếng…

Đó là hai nho sĩ Trần Hàn (huyện Quế Sơn), Nguyễn Dương Hương (huyện Điện Bàn), cùng thời với Nguyễn Hiển Dĩnh, học giỏi nhưng thi không đỗ, về quê sống cuộc đời ẩn dật, phóng khoáng, chuyên làm thơ phú, sáng tác những câu hò khoan lưu hành trong dân gian và là tác giả của hai vở tuồng đồ nổi tiếng Giáp Kén Xã Nhộng Công rùa cua rồng (2).

Đó là học giả Trúc Tôn Phạm Phú Tiết (1894-1981), người con của xã Đông Ba, huyện Diên Phước, cháu nội của song nguyên hoàng giáp Phạm Phú Thứ, cháu họ ngoại của danh nhân Đào Tấn, nguyên là Bình phú Tổng đốc (Tổng đốc hai tỉnh Bình Định và Phú Yên), được đánh giá là “nhà nghiên cứu tuồng xuất sắc” khi dày công nghiên cứu chú giải bốn vở tuồng của Đào Tấn là Hộ sinh đàn – Trầm Hương các – Diễn võ đình – Cổ thành; dày công nghiên cứu lịch sử sân khấu qua nhiều thư tịch cổ nhằm chứng minh nguồn gốc dân tộc của nghệ thuật tuồng, phân tích quá trình phát triển của tuồng qua các giai đoạn quan trọng, tìm ra ba phong cách tuồng Bắc – Trung – Nam, đi sâu phân tích những vở tuồng mẫu mực và hệ thống những tác giả, kịch bản tuồng từ thế kỉ XVIII cho đến nay.

Đó là Tống Phước Phổ (1902-1991), ở An Quán, Điện Bàn, là chắt ngoại của nhà yêu nước Hoàng Diệu; là cháu của danh nhân Nguyễn Hiển Dĩnh, trải qua nhiều năm làm thư ký chuyên chép tuồng và tham gia làm biện tuồng (như một thư ký đạo diễn) cho Nguyễn Hiển Dĩnh. Ông là một trong những tác giả lớn nhất của sân khấu tuồng với gần 100 kịch bản, là cây viết hàng đầu của sân khấu tuồng cách mạng.

Đó là Giáo sư Hoàng Châu Ký (1921 - 2008), quê ở xã Cẩm Kim, Hội An, là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Nghệ thuật Sân khấu (nay là Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội), nguyên Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Sân khấu - Bộ Văn hóa. Ông đã sáng tác hơn 20 vở tuồng nổi tiếng; cải biên, chỉnh lý nhiều vở tuồng cổ; viết nhiều công trình nghiên cứu về tuồng trong đó có cuốn Sơ khảo lịch sử nghệ thuật tuồng, Tuồng cổ, Nghệ thuật biên kịch tuồng, Nghệ thuật biểu diễn tuồng, Nghệ thuật tuồng cung đình, Giá trị của vở tuồng “Nghêu Sò Ốc Hến”, Tuồng Quảng Nam, Từ điển nghệ thuật hát bội Việt Nam...đóng góp lớn trong việc nghiên cứu, bảo tồn, phát triển và truyền bá nghệ thuật tuồng truyền thống của dân tộc. v.v và v.v…

2. Sở dĩ Quảng Nam có nhiều nhân tài tuồng hàng đầu cả nước như vậy bởi lẽ nói đến Quảng Nam, nhiều người đã ví đó là vùng đất “đầu sóng ngọn gió”, “phên giậu phía Nam”, “vị trí trung chuyển giữa hai đầu đất nước”; là nơi “hội thủy, hội nhân, hội văn hóa” với sự giao lưu, ảnh hưởng sống động văn hóa Ấn - Việt - Hoa; là “đất văn hóa”, “đất học”, “đất khoa bảng”, “đất địa linh nhân kiệtvới nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, nhiều anh hùng dân tộc và nhân tài học rộng, đỗ cao; là vùng đất mà người dân luôn “nhạy cảm với cái mới, khao khát cái mới như đất hạn khát mưa, háo hức hút ngay từ giọt nước đầu tiên. Thậm chí khi chưa thật sự có giọt nước nào, chưa thật sự mưa đã náo nức hóng về mưa, cảm nhận ra nó rất sớm, chờ đón nó nồng nhiệt"(3)… Với sắc thái địa – văn hóa độc đáo đó, lại được đặt ở vị trí điểm giữa của hai trung tâm tuồng lớn là Huế và Bình Định; nằm trong lãnh địa miền Trung được các chúa Nguyễn tạo ra nhằm đối kháng với Đàng Ngoài với sự đặc biệt chú trọng phát triển nghệ thuật tuồng, lấy nghệ thuật tuồng là vũ khí tư tưởng đắc lực để củng cố chế độ quân chủ chuyên chế… do đó Quảng Nam có điều kiện tiếp thu tinh hoa của tuồng cung đình và tuồng Nam, có điều kiện thúc đẩy mạnh phong trào hoạt động tuồng trong dân gian cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, từ đó sản sinh ra nhiều tài năng lớn của ngành tuồng, đóng góp to lớn vào sự phát triển nghệ thuật tuồng truyền thống của dân tộc.

Chính vì là vùng đất vàng nuôi dưỡng, sản sinh nhiều tài năng kiệt xuất nên người dân Quảng Nam xưa đâu đâu cũng mê tuồng, thông thạo tuồng; hầu hết các trí thức nho học, đặc biệt là trí thức nho học lớp dưới không đỗ đạt hoặc đỗ thấp đều biết hát và nhiều người hát hay, hiểu sâu về nghệ thuật tuồng; đồng thời Quảng Nam mới có những vị quan như Nguyễn Hiển Dĩnh say mê tuồng, thành lập gánh hát, rạp hát vang danh cả nước, hay như Phạm Phú Tiết vừa biết diễn tuồng, vừa nghiên cứu tuồng, sau này tuy làm ở Mặt trận Tổ quốc Trung ương, nhưng vẫn tham gia Ban Nghiên cứu Tuồng để tiếp tục cống hiến cho ngành tuồng…Thậm chí, có những tài năng không sinh ra ở Quảng Nam, nhưng sống trên đất Quảng Nam, được Quảng Nam nuôi dưỡng, phát triển, nên tài năng càng được tỏa sáng, thăng hoa trong sự nghiệp (như trường hợp NSND Ngô Thị Liễu (1905-1984), quê ở Quảng Trị, vợ của NSND Nguyễn Lai, nguyên Giám đốc đầu tiên của Nhà hát Tuồng Việt Nam).

3. Khi được đất mẹ Quảng Nam nuôi dưỡng, phát triển, các nghệ sĩ, bằng tình yêu tuồng mãnh liệt và bằng tài năng lỗi lạc, đã tạo cho tuồng cổ Quảng Nam một “thương hiệu” đặc biệt. Thương hiệu ấy chính là uy tín, chất lượng, trình độ nghệ thuật điêu luyện, sự am hiểu đạt đến đỉnh cao trên nhiều phương diện mà họ dày công tạo nên trong suốt nhiều năm dài trong lịch sử và được đặt trong thế đối sánh với ba thương hiệu khác: tuồng Phú Xuân, tuồng Bình Định và tuồng Gia Định. Thương hiệu ấy được tích lũy, hội tụ từ người đánh trống chầu thiện nghệ như múa trên mặt trống, từ những diễn viên đạt đến trình độ diễn xuất như “thế thượng nhân song”, “nhân gian đệ nhất”, biết sử dụng đôi hia như nhập thần, biết trăm vẻ khóc, trăm vẻ cười khác nhau, nổi danh với biệt danh “vua hề”, “vua đói”, “vua nịnh”; từ những ông quan lớn như Nguyễn Hiển Dĩnh say mê tuồng hơn cả làm quan, cả đời hi sinh tất cả cho nghệ thuật tuồng; từ những tác giả viết hàng trăm kịch bản tuồng để đời, lưu danh hậu thế…

Thương hiệu tuồng cổ Quảng Nam không chỉ được nhân dân khẳng định, mà còn được các vua Nguyễn thừa nhận và các trung tâm tuồng lớn khác phải nể phục, trân trọng. Bởi vậy, vua Minh Mạng khi tuần du phương Nam, đã xem tuồng ở Hội An và nhận thấy “nghệ thuật không kém sân khấu đất thần kinh”; nhiều nghệ sĩ tuồng Quảng Nam được vua phong cho chức Chánh ca, Phó ca, Quản ca, Đội trưởng trong đội tuồng cung đình; thậm chí có nghệ sĩ (không rõ tên tuổi), quê ở Tam Kỳ, được vua Nguyễn phong cho chức Thự trưởng Thự Thanh Bình – một chức vụ mà triều đình chỉ phong cho những nghệ sĩ lỗi lạc, có tài nghệ xuất chúng; và sau này, nhiều nghệ sĩ, nhà hoạt động tuồng Quảng Nam được Nhà nước cách mạng phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, giao giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành sân khấu nói chung và ngành tuồng cả nước nói riêng, thậm chí còn làm cả Đại biểu Quốc hội (như trường hợp NSND Nguyễn Nho Túy); và đặc biệt, có Nguyễn Hiển Dĩnh được suy tôn là Hậu tổ của ngành tuồng cả nước, là danh nhân văn hóa của Quảng Nam nói riêng và cả nước nói chung.

Toàn cảnh Hội thảo

Tuy nhiên, để tạo dựng nên “thương hiệu” tuồng cổ Quảng Nam là điều không dễ dàng đối với nghệ sĩ Quảng Nam. Bởi lẽ thương hiệu ấy được tích lũy, xây dựng từ niềm đam mê cháy bỏng với tuồng, từ nghị lực vượt qua gian khổ khi học tuồng và từ tinh thần chịu khó, ham học hỏi, nghiêm túc làm nghề, tự trọng giữ nghề của người Quảng Nam. Điều này được thể hiện ở sự quyết tâm khổ luyện đến nghiệt ngã các bài tập: tập mắt, tập mũi, tập miệng, tập gò má, tập lông mày, tập kết hợp ngũ quan để biểu hiện nét mặt khi khóc, cười, giận, lo lắng…; tập hát sao cho “tròn vành rõ chữ”, “sát bờ sát góc”, vò chữ vuốt chữ để “hát cho rạch tai người nghe”, nắm vững luật hát có phân câu, bỏ chữ, có vế trống, vế mái; tập múa sử dụng quyền thuật, theo luật cân đối tả hữu, diễn tả được mọi tâm tư tình cảm nhân vật “sao cho chỉ có một người diễn ở trên sân khấu mà người xem hình dung ra nào sông sâu, núi cao, ngựa phi, gió thổi, cảnh chiến tường khói lửa hay cảnh gió mát trăng thanh nơi khuê các”, “sao cho với một thanh gươm, một dóng giáo hay chỉ một cái quạt bé nhỏ trong tay mà điệu bộ, dáng đi biển đổi thiên hình vạn trạng”; ở tinh thần “học cho chết, dùng cho sống” tức là dù chỉ một câu lối, một câu hát thôi mà phải tìm cho “chết nghĩa” mới mong diễn cho sống được dù chỉ là một tình tiết nhỏ trên sân khấu; ở thái độ trọng nghề khi không ngừng học thầy, học bạn, nhưng khi diễn, không lặp lại những gì đã học, mà phải “công phu suy nghĩ”, “sáng tạo riêng khác nhau” thích hợp với từng vai, từng chỗ, nhờ thế mới tạo nên sự độc đáo của mỗi người và tạo nên những bậc thầy trong từng vai, từng vở v.v… (4).

Chính từ thương hiệu mạnh của mình, Quảng Nam khi xưa trở thành mảnh đất thu hút nhiều nhân tài từ các nơi khác đến (như rạp của Nguyễn Hiển Dĩnh tập trung nhiều nghệ nhân ở Quảng Ngãi, Bình Định, Huế đến biểu diễn) và là căn cứ làm nảy sinh giả thuyết “Quảng Nam vừa là cái nôi của tuồng đồ, vừa là cái nôi của tuồng thầy” (5). Bên cạnh đó, tuồng Quảng Nam còn trở thành mẫu mực cho tuồng các nơi khác học tập, làm theo. Không phải ngẫu nhiên, trong Văn tế T của tuồng Quảng Nam còn lưu rõ: “Tự Minh Mạng hữu Việt Thường công thự, thiết lập hoàn thành, Chí Tự Đức vương triều dĩ Quảng Nam trung thanh duy cầu sở học(Từ vua Minh Mạng xây dựng hoàn thành thự Việt Thường. Đến vua Tự Đức bảo (diễn tuồng) nên học theo giọng trung thanh của Quảng Nam). Các kịch bản tuồng của Nguyễn Hiển Dĩnh, Tống Phước Phổ trở thành những kịch bản kinh điển, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tuồng thầy, tuồng đồ, tuồng cách mạng, được ngành tuồng cả nước coi là mẫu mực để dàn dựng, biểu diễn và vẫn sống bền bỉ trên sân khấu hôm nay. Trường hát Vĩnh Điện mang đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Hiển Dĩnh tiếng tăm khắp tỉnh và ảnh hưởng không nhỏ đến những nơi khác. Nhiều vai diễn độc đáo của các nghệ sĩ bậc thầy đất Quảng trở thành hình mẫu cho bao nghệ sĩ cả nước học tập, làm theo. Nhiều nhân tài tuồng Quảng Nam như Chánh Phẩm, Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu…trở thành thầy của nhiều nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú trong ngành tuồng cả nước như: Đinh Quả, Vĩnh Phô, Võ Sĩ Thừa, Đình Bôi, Đình Sanh, Minh Ngọc, Minh Ân, Đàm Liên, Kim Cúc, Hưng Quang, Quang Hạnh, Nguyễn Kiểm, Tiến Thọ…Và các nghệ sĩ tài năng này, chịu ảnh hưởng của thầy tuồng Quảng Nam, lại truyền dạy cho nhiều thế hệ sau kế tục, tiếp nối tinh hoa của nghệ thuật tuồng truyền thống nói chung và tuồng Quảng Nam nói riêng. Những công trình nghiên cứu tuồng của học giả Phạm Phú Tiết, GS. Hoàng Châu Ký và các cuốn hồi ký của NSND Nguyễn Nho Túy, NSND Nguyễn Lai, NSND Ngô Thị Liễu… trở thành cẩm nang quý giá cho nhiều thế hệ bước chân vào tìm hiểu, nghiên cứu nghệ thuật tuồng truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Tóm lại, vùng đất Quảng Nam sản sinh ra nhiều nhân tài lớn của ngành tuồng và các nhân tài lớn ấy đã tạo nên thương hiệu – uy tín của tuồng cổ Quảng Nam trên nhiều phương diện (kịch bản, diễn xuất, đào tạo, nghiên cứu lý luận…), có sức ảnh hưởng mạnh đến ngành tuồng cả nước, đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo tồn, phát huy, phát triển nghệ thuật tuồng truyền thống của dân tộc Việt Nam. Thương hiệu tuồng cổ Quảng Nam đã trở thành giá trị độc đáo, làm nên tinh hoa văn hóa của vùng đất Quảng Nam, rộng hơn là tiểu vùng văn hóa xứ Quảng và rộng hơn nữa là văn hóa vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Những giá trị đó đã, đang và sẽ luôn vĩnh cửu, bất biến…

Hiện nay, để bảo tồn, phát huy giá trị tuồng cổ, Quảng Nam cần phải xác định rõ giá trị thương hiệu tuồng của chính mình trong sự đối sánh với các trung tâm tuồng khác vì những giá trị thương hiệu ấy làm nên sự riêng biệt, độc đáo của tuồng Quảng Nam nói riêng và văn hóa Quảng Nam nói chung ./.

Trần Thị Minh Thu 

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

ẤN PHẨM

Giới thiệu ấn phẩm sách và tạp chí hàng năm

Thông tin website

TRANG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
+ Cơ quan chủ quản: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.
+ Giấy phép số 348/GPSĐBS-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 09/07/2015
+ Người chịu trách nhiệm chính: PGS.TS. Bùi Hoài Sơn.

Địa chỉ: 32 phố Hào Nam - quận Đống Đa - Hà Nội.
Điện thoại: (84-24) 38569162 - (84-24) 35111095.     Fax: (84-24) 35116415.
Email: info@vicas.org.vn
Website: http://vicas.org.vn

Ghi rõ nguồn "VICAS" khi phát hành lại thông tin từ website này.