Lịch sử hình thành và phát triển

Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam 40 năm xây dựng và phát triển

Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam ngày nay, mà tiền thân là Viện Nghệ thuật được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1971 đến nay đã tròn 40 năm. Bốn thập kỷ là một quá trình không dài với lịch sử phát triển của một viện nghiên cứu, nhưng đã đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của một cơ quan nghiên cứu khoa học về văn hóa, nghệ thuật của một Bộ đa ngành như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

1. Từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Khác với một số viện nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 40 năm qua, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã có những lần thay đổi tên gọi và cơ cấu tổ chức. Có thể thấy sự thay đổi ấy ở năm thời kỳ sau:

1.1. Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghệ thuật

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin, lãnh đạo Bộ Văn hóa trước đây mà nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn chú trọng công tác nghiên cứu khoa học. Những năm sáu mươi của thế kỷ XX, Vụ Âm nhạc và múa có Viện Nghiên cứu Âm nhạc và Múa, Vụ Mỹ thuật có Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ. Để đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, ngày 1 - 4 - 1971, GS. Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, đã ký quyết định 44/VH-QĐ thành lập Viện Nghệ thuật, tiền thân của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam ngày nay. Vị trí của Viện được xác lập: "là cơ quan giúp Bộ nghiên cứu những vấn đề thuộc về lý luận học thuật của các bộ môn nghệ thuật: mỹ thuật (gồm cả mỹ nghệ), sân khấu, nhạc, múa, điện ảnh theo đường lối, quan điểm nghệ thuật của Đảng và Nhà nước". Lãnh đạo Bộ đã phân công nhà lý luận Hà Xuân Trường, Thứ trưởng Bộ Văn hóa trực tiếp kiêm nhiệm làm viện trưởng, đồng thời điều động những nghệ sĩ, cán bộ quản lý từ các trường, cục, vụ, viện như các ông Nguyễn Phúc, Trần Đình Thọ, Nguyễn Đức Nùng, Trần Bảng, Nguyễn Đức Lộc, Phạm Đình Sáu, Tú Ngọc, Đặng Đình Trung, Lê Huy về làm nhiệm vụ quản lý các ban chuyên môn của Viện. Cùng với việc này, lãnh đạo Bộ và lãnh đạo Viện đã mở cửa chiêu hiền đãi sĩ tập hợp lực lượng khoa học ở nhiều nơi, nhiều nguồn khác nhau về Viện Nghệ thuật như các ông Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Từ Chi v.v... Đáng lưu ý là định hướng thành lập Tổ chuyên san nghiên cứu nghệ thuật do nhà lý luận Hà Xuân Trường làm chủ nhiệm, hoạ sĩ, nhà giáo Trần Đình Thọ làm Tổng biên tập, ông Nguyễn Phúc làm uỷ viên thường trực Ban biên tập tờ chuyên san. Hoạt động của Viện Nghệ thuật trong những ngày gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi ngay vào quỹ đạo của một Viện làm công tác nghiên cứu khoa học. Rồi các đề tài nghiên cứu văn hóa nghệ thuật được triển khai. Một số các công trình được hoàn thành. Năm 1973, từ chuyên san Thông báo nghệ thuật lưu hành nội bộ, tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật của Viện Nghệ thuật đã ra mắt bạn đọc số đầu tiên.

Năm 1976, đất nước thống nhất, Viện đón nhận số cán bộ của Sở Văn hóa khu tự trị Tây Bắc, Việt Bắc để cóPhân viện Nghệ thuật Tây Bắc, Phân viện Nghệ thuật Việt Bắc thuộc Viện Nghệ thuật. Ngày 25-8-1976, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu ký quyết định chuyển ngành âm nhạc giải phóng thành Viện Âm nhạc rồi bổ sung vào Ban Nghiên cứu Âm nhạc của Viện Nghệ thuật. Cũng từ năm này, việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật ở Tây Nguyên và Nam Bộ được Viện khẩn trương triển khai.

Lực lượng nghiên cứu của các ban nghiên cứu trong Viện phát triển cả về số lượng và chất lượng, thực tiễn công tác quản lý và công tác nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có những viện nghiên cứu chuyên sâu theo lĩnh vực. Năm 1978, các ban nghiên cứu lần lượt chuyển thành các viện nghiên cứu: Ban Nghiên cứu Mỹ thuật thành Viện Mỹ thuật, Ban Nghiên cứu Sân khấu thành Viện Sân khấu, Ban Nghiên cứu Âm nhạc và Múa thành Viện Âm nhạc và Múa. Viện Nghệ thuật chuyển thành Viện Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử Nghệ thuật, rồi chuyển thành Viện Văn hóa. Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật cùng các Viện Sân khấu, Văn hóa, Âm nhạc, Mỹ thuật đều trực thuộc Bộ Văn hóa. Ban Nghiên cứu Điện ảnh được chuyển sang một cơ quan khác của Bộ Văn hóa.

1.2. Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng chủ trương kiện toàn tổ chức ngành văn hóa và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa. Ngày 16-6-1988, Bộ trưởng Trần Văn Phác đã ký quyết định 592/VH-QĐ hợp nhất các Viện Văn hóa, Viện Nghiên cứu Sân khấu, Viện Âm nhạc và Múa, Viện Mỹ thuật và tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuậtđể thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Cuộc hợp nhất lần này của các viện chuyên ngành, như sự trở về của những người anh em đi làm ăn xa, trở về ngôi nhà chung. Một ban lãnh đạo Viện với Viện trưởng Lê Anh Trà và 4 phó Viện trưởng: Nguyễn Phúc, Tô Ngọc Thanh, Trần Việt Sơn, Nguyễn Đức Lộc điều hành các công việc của Viện, riêng ông Trần Việt Sơn trực tiếp làm Viện trưởng Viện Mỹ thuật, ông Nguyễn Đức Lộc trực tiếp làm Viện trưởng Viện Sân khấu. Tại phía Nam, tổ thường trú phía Nam của Viện Văn hóa và Phân viện Âm nhạc và Múa củaViện Âm nhạc và Múa được hợp nhất thành Viện Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói, với 4 viện chuyên ngành trực thuộc và một phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam khá đông đảo và hùng hậu. Nhiều cán bộ của Viện là những nhà khoa học có uy tín, tên tuổi. Có thể kể đến về văn hóa dân gian và âm nhạc dân tộc học với Tô Ngọc Thanh, Tô Vũ, Lư Nhất Vũ v.v...; về lý luận văn hóa với Lê Anh Trà, Hồ Sĩ Vịnh, Trường Lưu v.v...; về mỹ thuật với Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Thái Bá Vân, Trần Lâm Biền, Nguyễn Bá Vân v.v...; về âm nhạc với Nguyễn Xinh, về sân khấu với Hoàng Chương, Trần Việt Ngữ, Đoàn Thị Tình v.v...; về múa với Lâm Tô Lộc.

Một sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện là Viện được chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh vào năm 1991. Đây cũng là cơ sở đào tạo trên đại học duy nhất ở nước ta đào tạo phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ), tiến sĩ (nay là tiến sĩ khoa học) về văn hóa nghệ thuật với hai mã số: lịch sử văn hóa và nghệ thuật, mã số 5.03.13, nghệ thuật âm nhạc mã số 5.08.02. Hoạt động đào tạo trên đại học này có tác động rất lớn đến công tác đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học của Viện cũng như của ngành Văn hóa thông tin.

Năm 1993, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tách ra thành cơ quan thông tin lý luận của Bộ Văn hóa - Thông tin.

Năm 1995, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, ngày 1-3-1995, Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 123/TTg về việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin. Căn cứ vào quyết định này, ngày 22-12-1995, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Trần Hoàn đã ký quyết định 5775/QĐ-TC thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin. Phục vụ cho việc liên kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo của các chuyên ngành, các viện chuyên ngành trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam chuyển về các trường đại học: Viện Mỹ thuật chuyển về trường Đại học Mỹ thuật; Viện Âm nhạc chuyển về Nhạc viện Hà Nội; Viện Sân khấu chuyển về trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, Viện Văn hóa chuyển về trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

Ngày 30-1-1996, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Trần Hoàn ký quyết định 162/TC-QĐ xác định chức năng nhiệm vụ của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Vị trí của Viện được xác định: "là cơ quan nghiên cứu khoa học cơ bản trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin, có chức năng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Văn hóa và nghệ thuật Việt Nam, cung cấp các căn cứ khoa học phục vụ công tác quản lý và hoạch định các chính sách của Bộ Văn hóa - Thông tin nhằm xây dựng nên một nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc".

1.3. Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật

Năm 1996, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao nói trên, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã được xếp vào Danh mục 41 viện đầu ngành quốc gia ở Việt Nam theo Quyết định 782/TTg ngày 24-10-1996 của Thủ tướng Chính phủ. Vì thế, ngày 2-10-1997, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Nguyễn Khoa Điềm đã ký quyết định đổi tênViện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam thành Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật. Vị trí, chức năng của Viện vẫn được khẳng định như quyết định 162/TC-QĐ.

Ngoài các phòng chức năng, các ban nghiên cứu và Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh của Viện theo quyết định 162/TC-QĐ, ngày 25-2-1999, Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm đã ký quyết định thành lập Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Huế.

Cùng với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, đào tạo tiến sĩ, từ năm 1997, Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật được giao thêm nhiệm vụ làm thành viên Ban chủ nhiệm chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa, trực tiếp điều hành nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Ngoài nhiệm vụ làm tư vấn cho lãnh đạo Bộ: đề xuất, kiểm tra các địa phương thực hiện dự án, Viện còn trực tiếp tiến hành một loạt các dự án sưu tầm, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Bộ Văn hóa - Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho xây dựng tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam một ngân hàng dữ liệu (databank) về di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam.

Từ năm 2000, Viện chuyển nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc mã số 5.08.02 cho Nhạc viện Hà Nội, Viện chỉ còn lại đào tạo tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13.

1.4. Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin

Ngày 16-7-2003, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị ký quyết định 29/2003/QĐ-BVHTT đổi tên Viện thành Viện Văn hóa - Thông tin. Ngày 08 - 07 - 2004, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị ký quyết định 52/2004/QĐ-BVHTT quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Văn hóa - Thông tin. Vị trí của Viện được xác định: "là đơn vị sự nghiệp khoa học, có chức năng nghiên cứu, triển khai hoạt động khoa học và đào tạo sau đại học về văn hóa thông tin". Từ vị trí và chức năng này, các phòng, ban nghiên cứu, hai phân viện cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Thông tin đã được thành lập. Năm 2006, Bộ Văn hóa - Thông tin lại cho thành lập Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á tại Viện.

Năm 2003, công tác đào tạo tiến sĩ của Viện có sự thay đổi. Từ một chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép Viện đào tạo tiến sĩ Văn hóa học với 3 chuyên ngành Văn hóa học mã số 62.31.70.01; Văn hóa dân gian mã số 62.31.70.05; Quản lý văn hóa mã số 62.31.73.01; tiến sĩ Nghệ thuật học với 3 chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu mã số 62.21.40.01; Lý luận và Lịch sử mỹ thuật mã số 62.21.20.01; Lý luận và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyền hình mã số 62.21.50.01.

1.5. Thời kỳ mang tên là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Ngày 31-7-2007, Quốc hội khóa XII, đã thông qua quyết nghị thành lập Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trong nghị định 185/NĐ-CP ngày 25-12-2007, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam là một viện nghiên cứu trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Viện Văn hóa - Thông tin được chuyển thành Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

Ngày 25-6-2008, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh ký quyết định số 2845/QĐ-BVHTTDL qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Vị trí của Viện được xác định: “là đơn vị sự nghiệp khoa học trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chức năng nghiên cứu, triển khai hoạt động khoa học và sau đại học về văn hóa nghệ thuật”. Cơ cấu các phòng ban được thay đổi so với thời kỳ mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin, để phù hợp với công việc nghiên cứu ở một bộ đa ngành, trong đó đáng lưu ý là Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình, Trung tâm Nghiên cứu Dư luận về văn hóa, thể thao và du lịch.

Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư 10 về đào tạo tiến sĩ, trao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo sau đại học. Phòng Khoa học, đào tạo và hợp tác quốc tế được tách làm hai: Phòng Đào tạo, Phòng Khoa học và hợp tác quốc tế; để gánh vác công việc ngày càng nhiều và phức tạp về đào tạo tiến sĩ của Viện.

Đáp ứng quan hệ phát triển ngày càng sâu rộng về văn hóa, thể thao và du lịch của Việt Nam và Hàn Quốc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định số 1943/QĐ-BVHTTDL ngày 22-6-2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập Văn phòng xúc tiến xây dựng Trung tâm giao lưu văn hóa Việt - Hàn trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

40 năm trôi qua, từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam là một chặng đường Viện đã qua nhiều lần thay đổi cơ cấu tổ chức, tên gọi, nhưng tựu trung vẫn luôn luôn là một trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học hàng đầu về văn hóa, nghệ thuật của ngành văn hóa, thể thao và du lịch Việt Nam.

2. Bốn mươi năm hoạt động của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Nhìn lại một chặng đường phát triển, rõ ràng những thế hệ các nhà nghiên cứu tại Viện Nghệ thuật mà nay là Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã liên tục không ngừng phấn đấu, đóng góp vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật nước nhà. Có một điều cần khẳng định, những hoạt động nghiên cứu khoa học và thành tựu của các viện chuyên ngành như Viện Sân khấu, Viện Âm nhạc và Múa, Viện Văn hóa, Viện Mỹ thuật (từ năm 1988 đến năm 1995) và tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật (từ năm 1988 đến năm 1993) trong thời gian là bộ phận trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam cũng chính là hoạt động nghiên cứu và thành tựu của Viện. Thành tựu của Viện trong những năm qua thể hiện qua các mặt hoạt động sau:

2.1. Về nghiên cứu khoa học

Công tác nghiên cứu khoa học được thực hiện từ những ngày đầu mới thành lập. Trong khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ đang hồi ác liệt, thế hệ những nhà nghiên cứu đầu tiên của Viện đã mang hết tâm sức của mình cho những đề tài khoa học. Từ đi điền dã đến các hội thảo, các nhà nghiên cứu của Viện đã rất cần mẫn và say sưa. Những ngày đầu mới giải phóng miền Nam, cán bộ của Viện lại hăm hở nhiệt tình đi nghiên cứu ở Tây Nguyên, ở vùng đồng bào Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều công trình có giá trị của các nhà nghiên cứu trong Viện như các công trình của nhà lý luận Hà Xuân Trường, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi v.v... được hoàn thành và công bố trong thời kỳ này.

Vai trò là cơ quan nghiên cứu tư vấn cho lãnh đạo Bộ Văn hóa rồi Bộ Văn hóa - Thông tin và nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Viện càng ngày càng được thực hiện tốt. Suốt 40 năm Viện đã có những đóng góp quan trọng trong việc tư vấn, tham mưu cho các cơ quan Đảng và Nhà nước hoạch định các chính sách ở tầm vĩ mô về văn hóa, nghệ thuật, thông tin như: Xây dựng đề án cho mục tiêu “sưu tầm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” trình lãnh đạo Bộ và Chính phủ cho thực hiện vào cuối năm 1996; tham gia công việc nghiên cứu, khởi thảo văn bản để trình hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết: "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", tham gia tổng kết 20 năm xây dựng điển hình văn hóa huyện Hải Hậu của Bộ Văn hóa - Thông tin; góp phần xây dựng đề án “Chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa (2001-2010)”; đóng góp tích cực vào việc soạn thảo “Quy hoạch chiến lược phát triển văn hóa 2001-2010” của Bộ Văn hóa - Thông tin; tham gia Ban tổng kết 20 năm đổi mới, lý luận và thực tiễn của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX; tham gia xây dựng “Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020" để Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2008; 02 cán bộ của Viện đã tham gia Hội đồng Lí luận Trung ương nhiệm kỳ 2001-2006 và nhiệm kỳ 2011-2015; 01 cán bộ tham gia Hội đồng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển khoa học, công nghệ quốc gia nhiệm kỳ 1998-2003; 01 cán bộ tham gia Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về di sản văn hóa nhiệm kỳ 2004-2009; nhiệm kỳ 2010-2014 Viện có 02 cán bộ tham gia trong tổng số 27 thành viên của Hội đồng di sản văn hóa quốc gia; 01 cán bộ tham gia Tổ biên tập của Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Quốc hội khóa XIII.

Công tác nghiên cứu khoa học cơ bản và triển khai được nhiều kết quả. Viện đã tham gia thực hiện đề tài cấp Nhà nước về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” do nguyên Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm trực tiếp làm chủ nhiệm. Trong chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: Văn hóa, con người và phát triển nguồn nhân lực, Viện đã thực hiện đề tài cấp nhà nước KX 05: Thực trạng đời sống văn hóa nông thôn vùng Bắc Bộ và Nam Bộ do TSKH. Phan Hồng Giang làm chủ nhiệm và đề tài cấp Nhà nước KX.05: Khảo sát thực trạng Văn hóa đô thị ở Việt Nam do GS.TS. Đình Quang làm chủ nhiệm. TSKH. Phan Hồng Giang và PGS.TS. Nguyễn Chí Bền đã tham gia đề tài cấp Nhà nước của Hội đồng Lý luận Trung ương do GS.TS. Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm: Đổi mới và phát triển ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hai năm 2003-2004. Viện đã tham gia đấu thầu và trúng thầu đề tài cấp nhà nước KX.09.09: Bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích văn hóa - cách mạng và danh lam thắng cảnh của Thăng Long Hà Nội do PGS.TS. Nguyễn Chí Bền làm chủ nhiệm đề tài và đề tài cấp Nhà nước ĐTĐL-05:Hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do TS. Trần Chiến Thắng làm chủ nhiệm đề tài. Viện được giao thực hiện đề tài cấp nhà nước: Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế mã số KX.03.13/06-10 do TSKH. Phan Hồng Giang làm chủ nhiệm đề tài, TS. Bùi Hoài Sơn làm thư ký đề tài.Viện được giao hàng chục đề tài cấp Bộ, đã hoàn thành, nghiệm thu đa số đều đạt từ loại khá trở lên. Trong ba năm 2000-2003, Viện đã thực hiện dự án "Chính sách văn hóa vì sự phát triển” mà giai đoạn 1 là xây dựng Báo cáo quốc gia về hiện trạng văn hóa Việt Nam giai đoạn 1990-2002 do SIDA Thụy Điển tài trợ. Báo cáo đã được hoàn thành và hội đồng nghiệm thu của Bộ Văn hóa - Thông tin đánh giá tốt, đã chuyển ngữ sang tiếng Anh, nhóm chuyên gia tư vấn nước ngoài do SIDA Thụy Điển mời đánh giá đã đánh giá cao báo cáo này. Viện đã thực hiện đề tài Dòng quà tặng và vốn xã hội cùng GS.TS. Lương Văn Hy (trường Đại học Toronto) dưới sự tài trợ của Hội đồng khoa học xã hội Canada). Quỹ Toyota (Nhật Bản) đã tài trợ cho nghiên cứu viên Bùi Hoài Sơn thực hiện đề tài Internet với thanh niên Hà Nội, đề tài hoàn thành đạt kết quả tốt, đã in song ngữ Anh/Việt công bố với bạn đọc trong năm 2006.

Hoạt động hội nghị hội thảo là hoạt động được chú trọng. Viện đã tổ chức nhiều hội nghị cấp quốc gia thành công như Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 60 năm Đề cương Văn hóa Việt Nam vào năm 2003, hội thảo khoa học nhân kỷ niệm lần thứ 240 năm sinh Nguyễn Du năm 2004 v.v... Viện cũng chọn những đề tài đang là vấn đề "hóc búa, gay cấn" trong đời sống học thuật và quản lý văn hóa mà tổ chức các hội thảo khoa học. Đó là hội thảo khoa học vềNhà rông - nhà rông văn hóa ở Tây Nguyên (2003), Nhìn lại 10 năm mở thể nghiệm lễ hội Phủ Giày (2004), Múa bóng - một hình thức diễn xướng dân gian Nam Bộ (2004), Di sản nhà vườn xứ Huế và vấn đề bảo tồn (2002), Sản phẩm văn hóa và phát triển du lịch ở Huế, di sản văn hóa thế giới (2006), Mô hình tổ chức lễ hội đền Trần năm 2012 (2011) v.v...

Lần đầu tiên trong lịch sử của Viện, năm 2004, Viện tổ chức thành công hội thảo khoa học quốc tế: Á - Âu về đa dạng văn hóa và giao lưu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hoá với sự có mặt của 50 nhà khoa học, hoạt động văn hóa đến từ 25 nước Á- Âu. Từ năm 2004 đến nay, Viện đã tổ chức thành công 14 hội thảo khoa học quốc tế tại Việt Nam và nước ngoài như: Giá trị văn hóa của các nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á (năm 2004) và Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp quan họ ở Bắc Ninh, Việt Nam) (năm 2006); Văn hóa thông tin Lào, Việt Nam, trong hội nhập quốc tế (năm 2008); Văn hóa và văn minh tộc người sông Hồng (năm 2008); 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh (năm 2009) Sự thay đổi đời sống kinh tế xã hội và vấn đề bảo tồn, phát huy văn hóa cồng chiêng ở Việt Nam và các nước trong khu vực (năm 2009):Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại (năm 2010); Di sản văn hóa Nam Trung Bộ với phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế (năm 2011); Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại, nghiên cứu trường hợp thờ Hùng Vương của Việt Nam (năm 2011) v.v…

Các cán bộ khoa học của Viện đã tham dự nhiều hội thảo khoa học quốc tế ở Việt Nam và các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đức, Ấn Độ, New Zealand, Canada, Hoa Kỳ, Philipin, Nhật Bản v.v... Hội thảo khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ 2 do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức năm 2004 tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện đã có 10/316 tham luận của các học giả trong nước và nước ngoài. Hội thảo quốc tế thường niên của Hội nhân học Hoa Kỳ năm 2008 tại Hoa Kỳ, 05 cán bộ khoa học của Viện có tham luận thành một tiểu ban trình bày trong hội thảo. Năm 2011, tại hội thảo quốc tế của Hội nhân học Đông Á tại Hàn Quốc, 04 cán bộ khoa học của Viện đã có tham luận, thành một tiểu ban trình bày trong hội thảo. Trên tinh thần khiêm tốn nhất, vẫn phải ghi nhận cố gắng không mệt mỏi ấy của cán bộ khoa học của Viện, trong hội nhập quốc tế, đưa Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam ngang tầm với các viện nghiên cứu trong khu vực.

Hoạt động thông tin khoa học được chú trọng và phát triển. Thời kỳ Viện mang tên là Viện Nghệ thuật, tạp chíNghiên cứu Nghệ thuật của Viện, dưới sự lãnh đạo của chủ nhiệm Hà Xuân Trường, nhà lý luận; Tổng biên tập Trần Đình Thọ và nỗ lực của Ban biên tập gồm những nhà khoa học đầy uy tín như các nhà lý luận Nguyễn Phúc, Hồ Sĩ Vịnh, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi v.v... đã là cơ quan ngôn luận khoa học có uy tín trong nước, tập hợp được những nhà nghiên cứu có tên tuổi trong nước, công bố nhiều công trình có giá trị. Thời kỳ sáp nhập các viện chuyên ngành thành Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, các vị lãnh đạo các viện chuyên ngành lại cũng là thành viên của hội đồng biên tập tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, vì thế, hàng loạt công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong Viện cũng được công bố ở tạp chí này. Thời kỳ Viện mang tên Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, cơ quan ngôn luận của Viện là Thông báo khoa học. Đến nay, 28 số Thông báo khoa học đã ra mắt bạn đọc, góp phần đáng kể trong hoạt động thông tin khoa học và đào tạo nghiên cứu sinh của Viện. Mặt khác, Viện đã liên kết với tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam (Vietnam social sciences) để xuất bản 8 số tạp chí bằng tiếng Anh giới thiệu các công trình của các nghiên cứu viên trong viện với bạn đọc bằng tiếng Anh.

Những năm qua, Viện đã xuất bản một số đầu sách có giá trị như Từ điển Văn hóa học (sách dịch), Văn hóa học - những bài giảng (sách dịch), Vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (nhiều tác giả), Tổng mục lục các công trình nghiên cứu Chăm pa (Nguyễn Hữu Thông chủ biên), Katu, kẻ sống đầu nguồn nước (Nguyễn Hữu Thông chủ biên), Văn hóa phi vật thể Hội An (Bùi Quang Thắng chủ biên), Văn hóa phi vật thể Thăng Long (Phan Hồng Giang chủ biên), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam (nhiều tác giả), Vùng Văn hóa quan họ Bắc Ninh (nhiều tác giả), Công cuộc đổi mới, cội nguồn của lý luận và thực tiễn (Phạm Quang Nghị), Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, tổng mục lục các công trình nghiên cứu gồm 4 tập, Lễ hội Gióng (nhiều tác giả) cùng một số tuyển tập các tiểu luận của các nhà nghiên cứu trong Viện. Ngoài ra, cán bộ nghiên cứu của Viện còn công bố hàng trăm tiểu luận, công trình khoa học trên các tạp chí trong và ngoài nước. Một số công trình được các đồng nghiệp đón nhận với sự đánh giá cao về giá trị khoa học và thực tiễn. Uy tín khoa học của Viện được mở rộng hơn.

Từ năm 1997, Viện được giao quản lý và thực hiện mục tiêu Sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Ngoài việc tư vấn, tham mưu cho lãnh đạo Bộ về kế hoạch phân bổ cho các địa phương, giám sát, kiểm tra, tham gia nghiệm thu các dự án của các tỉnh/thành phố trong cả nước, Viện còn trực tiếp thực hiện các dự án. Qua 13 năm thực hiện nhiệm vụ này của Chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa, 298 dự án đã được các nghiên cứu viên của Viện thực hiện, trong đó có 68 dự án văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số thực hiện ở khu vực miền núi vùng sâu vùng xa. Từ dữ liệu của các dự án do Viện và các tỉnh thành phố tiến hành, Viện đã xây dựng một Ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Ngân hàng dữ liệu đã lưu trữ 1.100 băng với 860 băng Betacam, băng VHS tư liệu gốc với thời lượng hơn 100.000 phút, hơn 500 phim khoa học với thời lượng hơn 15.000 phút, 535 album ảnh với hơn 100.000 ảnh; 350 băng cassette, hơn 500 báo cáo điền dã về các di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc ở Việt Nam. Các dữ liệu đã được lưu trữ, phân loại đúng quy chuẩn.

Công việc làm phim nhân học (Anthopology film) được Viện thực hiện từ năm 1990, với rất nhiều phim khoa học kiểu dân tộc học, nhân học được lưu trữ trong Ngân hàng dữ liệu. Từ năm 2008, Quĩ Ford (Hoa Kỳ đã tài trợ cho Viện 01 dự án để các nghiên cứu viên của Viện học tập kinh nghiệm làm phim nhân học của thế giới. Kết quả, trong liên hoan phim ở Vân Nam tháng 03 - 2011 (Trung Quốc), 07 phim của các nhà khoa học trong Viện được trình chiếu và đánh giá cao.

Từ các dữ liệu của Ngân hàng dữ liệu và những tư liệu mới thu thập qua khảo sát điền dã, Viện đã thực hiện thành công công việc xây dựng bộ hồ sơ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để đệ trình UNESCO công nhận Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Ngày 25-11-2005, Tổng giám đốc UNESCO đã tuyên bố công nhận Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam là Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (nay là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại). Năm 2005, Bộ Văn hóa - Thông tin lại giao cho Viện phối hợp cùng Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bắc Ninh xây dựng bộ hồ sơ Dân ca quan họ Bắc Ninh để đệ trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày 30-10-2009, tại kỳ họp của Ủy ban liên chính phủ theo Công ước năm 2003, UNESCO đã công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Giữa quí 2 năm 2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã giao cho Viên xây dựng bộ hồ sơ Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày 17-11-2010, tại kỳ họp của Ủy ban liên chính phủ theo Công nước năm 2003, UNESCO đã công nhận Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Mặt khác, Viện chú trọng công tác quảng bá, giới thiệu giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài Truyền hình Hà Nội, mục Không gian văn hóa, Đài Truyền hình Việt Nam mục Gìn giữ cho muôn đời sau v.v... Viện đã xuất bản các đĩa VCD, DVD giới thiệu các di sản văn hóa phi vật thể, phục vụ thư viện các tỉnh, các trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng đông đảo bạn đọc.

2.2. Về đào tạo nghiên cứu sinh

Ý thức về đào tạo cho ngành văn hóa thông tin có những cán bộ nghiên cứu có trình độ sau đại học, trên đại học đã nhen nhóm trong lãnh đạo Viện từ khi Viện mang tên Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (1988-1990). Một lớp đào tạo thạc sĩ đã được mở tại Viện nhưng chưa được pháp qui hoá. Năm 1991, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam được Chính phủ đồng ý cho đào tạo nghiên cứu sinh với 2 chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật, mã số 5.03.13 và chuyên ngành Nghệ thuật Âm nhạc mã số 5.08.02. Vì thế, Viện là cơ sở đào tạo sau đại học duy nhất của ngành văn hóa - thông tin. Ngay sau khi được phép đào tạo, Viện đã tuyển nghiên cứu sinh phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ) theo hình thức ngắn hạn, bảo vệ bằng hệ thống công trình. Từ năm 1991 đến năm 1996, Viện đã hoàn thành các khoá đào tạo nghiên cứu sinh ngắn hạn chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật, mã số 5.03.13 và chuyên ngành Nghệ thuật Âm nhạc mã số 5.08.02, tổ chức cho 18 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ khoa học (nay là tiến sĩ).

Từ năm 2000, Viện thực hiện quy trình đào tạo tiến sĩ mới theo quy định tại Quy chế đào tạo tiến sĩ được ban hành theo quyết định số18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 08-06-2000 về việc ban hành "Quy chế đào tạo sau đại học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Năm 2000, Viện chuyển công việc đào tạo tiến sĩ chuyên ngành nghệ thuật âm nhạc cho Nhạc viện Hà Nội. Năm 2003, Bộ Giáo dục ban hành danh mục các chuyên ngành đào tạo tiến sĩ mới. Viện đã được Bộ Giáo dục Đào tạo cho phép mở 6 chuyên ngành đào tạo: Văn hóa học mã số 62.31.70.01, Văn hóa dân gian mã số 62.31.70.05, Quản lý văn hóa mã số 62.31.73.01 thuộc khoa Văn hóa học; Lý luận và Lịch sử mỹ thuật mã số 62.21.20.01, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu mã số 62.21.40.01, Lý luận và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyền hình, mã số 62.21.50.01 thuộc khoa học Nghệ thuật.

Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư số 10 về đào tạo tiến sĩ. Công việc đào tạo tiến sĩ có nhiều thay đổi, theo hướng nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế. Được giao quyền tự chủ về mọi phương diện từ tuyển đầu vào đến tổ chức đào tạo và cấp bằng tiến sĩ cho NCS v.v..., Viện phải chú trọng nâng cao chất lượng mọi công việc để giữ vững "thương hiệu” của mình.

Tính đến tháng 10-2011, Viện đã và đang đào tạo 14 khoá nghiên cứu sinh các chuyên ngành thuộc khoa học văn hóa và khoa học nghệ thuật gồm 162 nghiên cứu sinh (trong đó có 03 nghiên cứu sinh của CHDCND Lào). Trong số này, có nhiều người là các giảng viên, cán bộ nghiên cứu từ các viện và trường: Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, trường Nghệ thuật Sân khấu Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian, trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, và Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh… và một số anh chị em khác đến từ các cơ quan quản lý văn hóa ở trung ương và địa phương.

Công việc xây dựng chương trình, nội dung các chuyên đề đào tạo tiến sĩ được đặc biệt chú trọng. Viện đã tranh thủ sự tài trợ của quỹ Ford để xây dựng chương trình đào tạo tiến sĩ cho chuyên ngành Văn hóa học. Một số các công trình kinh điển của khoa học văn hóa như các công trình của B. Malinowski (1884-1942), A.L.Kroeber (1876-1942), Leslie A.White (1900-1975), v.v.... đã được dịch ra tiếng Việt làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu viên và nghiên cứu sinh của Viện.

Công tác tuyển sinh, đào tạo, chấm các chuyên đề và chấm luận án cả hai cấp: cấp cơ sở và cấp viện đã được thực hiện theo tinh thần chặt chẽ, đúng văn bản pháp quy và nâng cao chất lượng.

Đến tháng 10-2011, Viện đã có 87 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp nhà nước/cấp Viện. Nhiều luận án tiến sĩ sau khi công bố đã được nhận giải thưởng của các hội chuyên ngành như luận án của các NCS. Đỗ Thị Hương, Ngô Phương Lan, Nguyễn Đăng Vũ, Phan Quốc Anh, Đỗ Lan Phương v.v... Luận án tiến sĩ của NCS. Ngô Phương Lan đã được dịch sang tiếng Anh và một nhà xuất bản ở Ôxtrâylia nhận xuất bản phục vụ đông đảo bạn đọc nước ngoài. Cho đến nay, những cán bộ được đào tạo tại Viện đã và đang phát huy tốt vai trò của một tiến sĩ chuyên ngành trên mặt trận nghiên cứu khoa học và văn hóa nghệ thuật như GS.TS. Ngô Văn Thành, nguyên Giám đốc Học viện Âm nhạc quốc gia Hà Nội, PGS.TS. Nguyễn Phúc Linh, nguyên Phó giám đốc Học viện Âm nhạc quốc gia Hà Nội, PGS.TS. Trần Văn Ánh, nguyên hiệu trưởng Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, PGS.TS. Đỗ Lai Thúy, nguyên Phó tổng biên tập tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, PGS, TS. Nguyễn Văn Cương, Hiệu trưởng trường Đại học văn hóa Hà Nội, TS. Văn Thị Minh Hương, giám đốc Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, TS Phan Bích Hà, hiệu trưởng trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm, phó giám đốc Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Xuân Hồng, phó hiệu trưởng trường Đại học văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, TS. Nguyễn Văn Tình, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, TS. Ngô Phương Lan, Phó cục trưởng phụ trách Cục Điện ảnh, TS. Huỳnh Văn Tới, Ủy viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Đăng Vũ, Tỉnh ủy viên, giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, TS. Phan Quốc Anh, Tỉnh ủy viên, giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận v.v...

2.3. Về phát triển nguồn nhân lực

Bốn mươi năm, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện cũng trải qua nhiều biến động. Nhưng cũng chính tại môi trường của Viện, hai nhà khoa học của Viện đã được phong PGS năm 1984 rồi GS năm 1991 là GS.TS. Lê Anh Trà và GS.TSKH. Tô Ngọc Thanh. Tại các viện chuyên ngành và tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, các nhà khoa học như Nguyễn Từ Chi, Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Thuỵ Loan, Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ v.v... đã được phong PGS vào các năm 1984 và 1992.

Từ năm 2003 đến nay, các cán bộ khoa học của Viện đã được phong chức danh PGS là PGS.TS. Nguyễn Tri Nguyên, PGS.TS Nguyễn Chí Bền, PGS.TS. Lương Hồng Quang, PGS.TS. Bùi Quang Thắng, PGS.TS. Bùi Quang Thanh, PGS.TS. Lê Thị Hoài Phương. Năm 2011, PGS.TS. Nguyễn Chí Bền được Viện hàn lâm Khoa học xã hội Vân Nam (Trung Quốc) trao tặng danh hiệu Viện sĩ danh dự của Viện hàn lâm khoa học xã hội Vân Nam (Trung Quốc). Từ năm 2000 đến nay, nhiều nghiên cứu viên của Viện đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ như Bùi Quang Thắng, Đỗ Lan Phương, Bùi Hoài Sơn, Vũ Anh Tú, Trần Đình Hằng.

Từ sau năm 1996, vấn đề xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ được lãnh đạo Viện đặc biệt quan tâm. Một số cán bộ trẻ đã được gửi đi đào tạo tại Vương quốc Anh, Ôxtrâylia, một số cán bộ được thực hiện những chuyến nghiên cứu ở Hoa Kỳ, Cộng hoà liên bang Đức, Vương quốc Anh v.v... Đến tháng 11-2011, số cán bộ của Viện ở cả ba cơ sở Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh là hơn 125 người trong đó có 6 PGS.TS, 10 TS, 34 Ths. Cùng với việc chú trọng đào tạo văn bằng, ngoại ngữ, tin học, chính trị v.v... cho các nghiên cứu viên, Viện chú trọng bồi dưỡng đội ngũ này trong thực tiễn thông qua các đề tài cấp Viện, các hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế. Đội ngũ cán bộ trẻ của Viện có ý thức tự bồi dưỡng, phấn đấu nâng cao trình độ của mình. Với sự tài trợ của quỹ Ford, dự án “Nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy về quản lý Văn hóa trong nền kinh tế thị trường” đã được Viện triển khai từ năm 1999 đến năm 2002, rất có tác dụng với việc đào tạo nguồn nhân lực cho Viện. Đồng thời, các tổ chức Chi bộ Đảng, Chi đoàn thanh niên, Công đoàn của Viện được chú trọng xây dựng, phát triển, tạo một không khí ổn định, đoàn kết vì sự phát triển của Viện, góp phần vào công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của Viện hiện tại và sau này.

2.4. Về hợp tác quốc tế

Đây là lĩnh vực được lãnh đạo Viện rất chú trọng. Đến nay, Viện đã có sự hợp tác với một số trường đại học, viện nghiên cứu ở nước ngoài như Viện Hàn lâm Nghệ thuật Trung Quốc của Bộ Văn hóa nước CHND Trung Hoa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội tỉnh Vân Nam (CHND Trung Hoa), Viện văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Viện Thông tin - Văn hóa của Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch nước CHDCND Lào, Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào (nước CHDCND Lào), Viện Nghiên cứu Chính sách Văn hóa và du lịch Hàn Quốc của Bộ Văn hóa Du lịch Hàn Quốc, trường Đại học Temple (Hoa Kỳ), trường Đại học Southern Cross (Australia), trường Đại học Trent (Canada) v.v... Viện đã mời một số các nhà khoa học nước ngoài từ Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Nhật Bản, Philipine v.v... tới Viện cùng tham gia nghiên cứu, giảng dạy cho nghiên cứu sinh. Từ năm 2005, Viện đã mời một số nhà khoa học nước ngoài tham gia hướng dẫn luận án, phản biện độc lập cho NCS cùng các nhà khoa học trong nước.

2.5. Về xây dựng cơ sở vật chất

Đây là lĩnh vực Viện được lãnh đạo Bộ và các Vụ, Cục chức năng quan tâm, tạo điều kiện. Cho đến nay, công tác xây dựng cơ sở vật chất cho cả ba cơ sở ở Hà Nội, thành phố Huế, thành phố Hồ Chí Minh của Viện cơ bản đã hoàn thành, Viện đã có một cơ ngơi bước đầu đáp ứng yêu cầu của một viện nghiên cứu khoa học ở cả ba cơ sở tại thành phố Hà Nội, thành phố Huế và thành phố Hồ Chí Minh.

3. Lời kết

Nhìn lại chặng đường 40 năm xây dựng và phát triển của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, có thể nói, các thế hệ nhà nghiên cứu và viên chức của Viện đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực nghiên cứu khoa học, và lập được những thành tích đáng ghi nhận, đóng góp vào sự nghiệp chung của ngành văn hóa thông tin. Liên tục các năm 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, Viện luôn được cờ thi đua xuất sắc của Bộ. Năm 2004, 2005, Viện là đơn vị được cờ thi đua của Chính phủ, 03 cá nhân, 01 đơn vị thuộc Viện được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Năm 2001, kỷ niệm lần thứ 30 thành lập, Viện đã vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng ba, 01 cá nhân được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng ba. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập, Viện được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng nhất. Năm 2009, Viện được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng ba, 01 cá nhân được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng ba, 02 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về thành tích làm hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Năm 2011, nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập, Viện được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng ba. Đây là sự ghi nhận bước trưởng thành mới, vượt bậc trong những năm vừa qua của Viện, nhưng cũng là sự đi lên từ nền móng mà thế hệ các nhà nghiên cứu đi trước gây dựng cho thế hệ hôm nay, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho các nghiên cứu viên và viên chức đang công tác tại Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tiếp tục phấn đấu khắc phục những nhược điểm còn tồn tại, phát huy những thế mạnh và tiềm lực sẵn có để nỗ lực vươn lên làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà Bộ đã giao cho Viện hiện nay và sắp tới. Định hướng cơ bản của Viện trong phát triển là xây dựng được một đội ngũ nghiên cứu viên và viên chức đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đối với một viện nghiên cứu chiến lược của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngang tầm với các viện nghiên cứu trong khu vực.

Trong bốn mươi năm xây dựng và phát triển, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời, sâu sát của lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sự hợp tác hỗ trợ hết mình của các Vụ, Cục của Bộ, của các Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch 63 tỉnh, thành, của nhân dân các địa phương trong cả nước.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Viện, thay mặt lãnh đạo Viện cùng tất cả nghiên cứu viên, viên chức của Viện Văn hóa - Thông tin, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Khoa học Công nghệ trong các thời kỳ qua đã tin tưởng, giao nhiệm vụ, chỉ đạo tạo mọi điều kiện để Viện phát triển như ngày nay và có những đóng góp nhất định vào sự nghiệp chung của ngành văn hóa thông tin những năm qua.

Cũng nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan quản lý nhà nước, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch 63 tỉnh, thành, nhân dân của các địa phương đã hết lòng giúp đỡ Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam qua các thời kỳ. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các trường đại học, các viện nghiên cứu, các nhà khoa học đã phối hợp, cộng tác chặt chẽ với Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam trong công tác nghiên cứu và đào tạo cán bộ khoa học. Đặc biệt, chúng tôi xin ghi lòng tạc dạ công lao của thế hệ đàn anh đi trước đã có đóng góp không nhỏ "xây nền, đặt móng" cho sự phát triển của Viện, có những người đã quá cố như nhà lý luận Hà Xuân Trường, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, GS.TS. Lê Anh Trà, GS.NGND. Trần Đình Thọ, nhà dân tộc học PGS. Nguyễn Từ Chi, TS. Nguyễn Phúc, PGS. Nguyễn Đức Lộc, TS. Nguyễn Xinh, v.v...

Trách nhiệm của lãnh đạo Viện, các nghiên cứu viên và viên chức hôm nay là phấn đấu tiếp tục đưa Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phát triển bền vững, góp phần tích cực vào việc phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong thời kỳ mới.

Hà Nội, tháng 11 năm 2011
PGS.TS NGUYỄN CHÍ BỀN
Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

ẤN PHẨM

Giới thiệu ấn phẩm sách và tạp chí hàng năm

Thông tin website

TRANG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
+ Cơ quan chủ quản: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.
+ Giấy phép số 348/GPSĐBS-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 09/07/2015
+ Người chịu trách nhiệm chính: PGS.TS. Bùi Hoài Sơn.

Địa chỉ: 32 phố Hào Nam - quận Đống Đa - Hà Nội.
Điện thoại: (84-4) 38569162 - (84-4) 35111095.     Fax: (84-4) 35116415.
Email: info@vicas.org.vn
Website: http://vicas.org.vn

Ghi rõ nguồn "VICAS" khi phát hành lại thông tin từ website này.