Hai nhăm năm, một chặng đường đào tạo Tiến sĩ

1. Hai giai đoạn của một quá trình đào tạo

Ngày 25 tháng 4 năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký quyết định số 1052/QĐ-SĐH về việc giao hai chuyên ngành: Nghệ thuật âm nhạc, mã số 5.08.02; Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật, mã số 5.03.13 cho Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (nay là Viện Văn hóa NgHệ thuật quốc gia Việt Nam) để đào tạo nghiên cứu sinh trong nước. Buổi ban đầu, công việc đào tạo được bắt đầu với những nghiên cứu sinh đã có ít nhiều công trình nghiên cứu, theo hình thức ngắn hạn.

Từ năm 1997, Viện bắt đầu tổ chức thi tuyển để đào tạo tiến sĩ theo hình thức tại chức với thời hạn 3 năm.

Năm 2000, việc đào tạo nghiên cứu sinh chuyên ngành Nghệ thuật âm nhạc được chuyển giao cho Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam), Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam lúc đó chỉ còn lại một chuyên ngành đào tạo: Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật, thuộc khoa học Lịch sử.

Cũng từ năm 2000, Viện thực hiện quy trình đào tạo tiến sĩ mới theo quy định tại Quy chế đào tạo tiến sĩ được ban hành theo quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 08-06-2000 về việc ban hành "Quy chế đào tạo sau đại học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các ngành và chuyên ngành đào tạo tiến sĩ. Ngày 27 tháng 4 năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép Viện  đào tạo tiến sĩ hai ngành: Văn hóa học và Nghệ thuật học với  06 chuyên ngành gồm:

1. Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, mã số: 62.21.20.01;

2. Lý luận và Lịch sử Nghệ thuật Sân khấu, mã số: 62.21.40.01;

3. Lý luận và Lịch sử Nghệ thuật Điện ảnh, Truyền hình, mã số: 62.21.50.01

4.Văn hóa học, mã số: 62.31.70.01;

5.Văn hóa dân gian, mã số: 62.31.70.05;

6. Quản lý văn hóa, mã số: 62.31.73.01

Năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 10/BGD&ĐT ngày 07 tháng 05 năm 2009 về đào tạo tiến sĩ. Với Thông tư này, công việc đào tạo tiến sĩ đã có nhiều thay đổi theo hướng nâng cao chất lượng và trao quyền tự chủ cho cơ sở đào tạo. Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đứng trước những cơ hội và không ít thách thức trong lĩnh vực đào tạo. Từ nay trở đi, từ việc tuyển sinh đến tổ chức giảng dạy, tổ chức cho nghiên cứu sinh nghiên cứu khoa học, chấm các học phần, các chuyên đề, bảo vệ luận án đến cấp bằng tiến sĩ..., Viện đều tự chủ thực hiện và quyết định theo các văn bản pháp qui hiện hành. So với những qui định đào tạo trước đây, quy chế mới có nhiều đòi hỏi khắt khe hơn, nhưng cũng dành nhiều quyền hạn hơn cho cơ sở đào tạo. Những quy định về ngoại ngữ, luận án, hệ thống các học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan, nghiên cứu khoa học, hay việc học tập trung ít nhất 1 năm tại cơ sở đào tạo... đã đặt hoạt động đào tạo của Viện trong một hoàn cảnh mới nặng nề hơn.

2. Đội ngũ giảng viên

 Chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật trước đây cũng như các chuyên ngành của khoa Văn hóa học và Nghệ thuật học hiện nay là những chuyên ngành đòi hỏi Viện phải có một đội ngũ giảng viên đa ngành. Từ thuở ban đầu cho đến hiện nay, lãnh đạo Viện luôn chủ trương mời nhiều các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau đến giảng dạy và hướng dẫn cho NCS như cố GS. Trần Quốc Vượng (Lịch sử/Văn hóa), cố PGS. Hà Văn Cầu (Nghệ thuật), cố GS. Đặng Nghiêm Vạn (Dân tộc học/Tôn giáo học), cố GS.TS. Đình Quang (Sân khấu), GS. Phan Huy Lê (Lịch sử), GS.TSKH. Lưu Trần Tiêu (Bảo tàng/Quản lý văn hóa), GS.TS. Hoàng Vinh (Lý luận văn hóa), GS.TS.NSND Trần Thu Hà (Nghệ thuật Âm nhạc) v.v...

Khi thực hiện qui trình đào tạo tiến sĩ theo thông tư số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/6/2000 lẫn thông tư số 10/2009/BGD&ĐT ngày 07/5/2009, Viện đều chú trọng mời các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành tham gia đào tạo và hướng dẫn khoa học cho NCS. Đó là các nhà khoa học như cố GS.TS. Phạm Đức Dương cố PGS.TSKH. Nguyễn Hải Kế, GS.TS. Trần Văn Bính, GS.TS. Kiều Thu Hoạch, GS.TS. Ngô Đức Thịnh, GS.TS. Nguyễn Xuân Kính, GS. Phong Lê, GS. Phạm Công Thành, PGS. Vân Thanh, PGS. Lê Anh Vân, PGS.TS. Trần Trí Trắc, PGS. TS. Trần Thanh Hiệp, PGS.TS.Ngô Văn Doanh, v.v... 

Đội ngũ giảng viên cơ hữu của Viện, chỉ từ 05 tiến sĩ giai đoạn đầu, đến tháng 7 năm 2017 đã có 03 giáo sư, 09 phó giáo sư, 19 tiến sĩ, về cơ bản đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu, đều là những cán bộ khoa học đầu ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Viện có những giảng viên có học hàm, học vị được đào tạo bài bản từ nước ngoài: Nga, Mỹ, Anh, Úc, Đài Loan, có trình độ chuyên môn tốt, ngoại ngữ giỏi, đáp ứng trước mắt nhu cầu phát triển.

Ngoài các nhà khoa học trong nước, Viện đã mời các nhà khoa học nước ngoài đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Pháp, Anh, Canada… giảng bài cho nghiên cứu sinh hoặc hướng dẫn luận án như GS.TS. Lương Văn Hy (Đại học Toronto, Canada), GS.TS. Lê Hữu Khóa (Đại học Lille 3, Cộng hòa Pháp), PGS.TS. Nora Taylor (Đại học Arizona State, Hoa Kỳ), GS.TS. Phạm Hồng Quý (Đại học Dân tộc Quảng Tây, Trung Quốc), v.v... Viện đã ký hợp đồng khoa học với các nhà khoa học làm giảng viên kiêm chức cho Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam như PGS.TS. Trần Lâm Biền, PGS.TS. Phạm Mai Hùng, v.v...

Vì thế, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã qui tụ được một đội ngũ các nhà khoa học đa ngành, thu hút trí tuệ của nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài tham gia đào tạo, hướng dẫn NCS thực hiện luận án tiến sĩ.

3. Đội ngũ nghiên cứu sinh

Đội ngũ nghiên cứu sinh của Viện được chia thành ba thời kỳ: thời kỳ đào tạo từ năm 1991 đến năm 1996; thời kỳ đào tạo từ năm 1997 đến năm 2008; thời kỳ từ năm 2009 đến nay.

Từ năm 1991 đến năm 1996 là giai đoạn Viện đào tạo theo hình thức ngắn hạn. Các nghiên cứu sinh đã có ít nhiều công trình khoa học đã công bố, có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học. Với 7 năm đào tạo, 18 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ) cả hai chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật và Nghệ thuật Âm nhạc.

 Từ năm 1997 đến năm 2008, Viện đào tạo tiến sĩ theo các khóa học dài hạn 3 năm. Các nghiên cứu sinh học chuyên đề, làm các tiểu luận theo các chuyên đề và bảo vệ luận án theo thông tư số 18/2000-BGD&ĐT. Từ năm 1997 đến năm 2003, các nghiên cứu sinh được đào tạo theo chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật, mã số 5.03.13 thuộc Khoa học Lịch sử.

Từ năm 2004, Viện bắt đầu đào tạo theo 6 chuyên ngành: Văn hóa học, mã số 62 31 70 01; Văn hóa dân gian, mã số 62.31.70.05, Quản lý văn hóa, mã số 62 31 73 01; Lý luận và Lịch sử mỹ thuật, mã số 62 21 20 01; Lý luận và Lịch sử nghệ thuật sân khấu, mã số 62 21 40 01; Lý luận và Lịch sử nghệ thuật điện ảnh, truyền hình, mã số 62 21 50 01.

Từ năm 2009, việc thi tuyển được thay đổi bằng hình thức xét tuyển. Các nghiên cứu sinh khóa 13, 14 đã theo học theo các chuyên ngành được xác định ngay từ khi nộp hồ sơ dự ứng tuyển.

 Tính đến tháng 7 năm 2017, Viện đã và đang đào tạo 20 khoá nghiên cứu sinh các chuyên ngành thuộc khoa Văn hoá học và khoa Nghệ thuật học gồm 326 nghiên cứu sinh, trong đó đã có 153 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (có 03 nghiên cứu sinh của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào). Trong số này,  nhiều người là giảng viên, cán bộ nghiên cứu của các viện và trường đại học như: Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sân khấu - Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, Đại học Sư phạm Nghệ thuật trung ương, Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian (Viện Khoa học xã hội Việt Nam)… và các cơ quan quản lý, đơn vị ở trung ương và địa phương.

4. Những việc đã làm và kết quả ban đầu

Năm 2002, để tư vấn cho Viện trưởng về đào tạo tiến sĩ, Viện thành lập Hội đồng đào tạo của Viện gồm các nhà khoa học đầu ngành trong và ngoài Bộ. Hàng năm, thành viên của Hội đồng đều có sự bổ sung thay đổi. Từ năm 2009 bên cạnh các giáo sư trong nước, Viện đã mời GS.TS. Lương Văn Hy (Đại học Toronto, Canada) tham gia Hội đồng. Hoạt động của Hội đồng đã có rất nhiều tác dụng cho công tác đào tạo tiến sĩ của Viện.

Năm 2004, được sự tài trợ của Quĩ Ford, Viện đã mời các giáo sư là người Việt Nam ở nước ngoài như GS.TS. Hồ Huệ Tâm (Đại học Havard, Hoa Kỳ), GS.TS. Lương Văn Hy (Đại học Toronto, Canada) và các giáo sư đầu ngành trong nước như cố giáo sư Trần Quốc Vượng, GS.TSKH. Tô Ngọc Thanh... thảo luận, xây dựng khung chương trình đào tạo tiến sĩ văn hóa học cho Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.

Về phương diện hành chính của công tác đào tạo, Viện đã thực hiện nghiêm túc từ thi tuyển, học chuyên đề, làm các chuyên đề đến bảo vệ luận án. Việc bảo vệ luận án được bổ sung thêm một lần: bảo vệ ở tổ bộ môn, ngoài hai lần bảo vệ ở cấp cơ sở và cấp nhà nước theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nghiên cứu sinh học đầy đủ 3 chuyên đề theo qui định. Đồng thời, với các nghiên cứu sinh học bậc đại học và thạc sĩ từ các trường nghệ thuật, nghiên cứu sinh học thạc sĩ ở nước ngoài sẽ học bổ túc một số các chuyên đề liên quan đến lịch sử và văn hóa. Trên cơ sở ấy, chất lượng luận án của nghiên cứu sinh đã tăng lên rất nhiều.

Viện chú trọng tạo cơ hội và điều kiện cho các nghiên cứu sinh nghe báo cáo khoa học của các giáo sư nước ngoài, cũng như tham gia các hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế, cả với tư cách tác giả lẫn tư cách thính giả.

Quy chế đào tạo tiến sĩ theo thông tư số 10/2009/BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo buộc Viện cũng như các cơ sở đào tạo sau đại học phải thay đổi rất nhiều nội dung, hình thức và phương pháp đào tạo. Viện đã ban hành Quy chế đào tạo tiến sĩ của Viện dựa trên Quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Thành lập các tiểu ban chuyên môn theo 6 chuyên ngành đào tạo; Xây dựng khung chương trình cho 6 chuyên ngành đào tạo; Bước đầu triển khai viết đề cương các học phần tiến sĩ theo khung chương trình đã được phê duyệt của 6 chuyên ngành đào tạo; Mở các lớp học tiếng Anh theo chương trình B2 (khung Châu Âu) cho nghiên cứu sinh; mời các nhà khoa học nước ngoài tham gia giảng dạy, hướng dẫn, phản biện độc lập, tham gia các hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Viện. Để đáp ứng những đòi hỏi mới, năm 2011 Viện đã tách Phòng Khoa học - Đào tạo - Hợp tác Quốc tế thành Phòng Đào tạo và Phòng Khoa học - Hợp tác quốc tế và như vậy, Viện đã có một phòng chuyên môn để quản lý công tác đào tạo tiến sĩ. Đến năm 2014, Phòng Đào tạo được đổi thành Khoa Sau Đại học và hoạt động của Khoa ngày càng đi quy củ, chuyên nghiệp.

5. Cơ hội và thách thức    

Thông tư số 10/2009/BGD&ĐT ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và đặc biệt là Thông tư số 08/2017/TT-BGDDT ngày 04 tháng 4 năm 2017 ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ đã đặt công tác đào tạo tiến sĩ của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam trước những cơ hội và thách thức mới, vừa được tự chủ trong nhiều lĩnh vực, vừa phải vận hành công tác đào tạo tiến sĩ các chuyên ngành văn hóa nghệ thuật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Đầu tiên là cơ hội để nâng cao vị thế và uy tín cho công tác đào tạo tiến sĩ của Viện. Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, trong bối cảnh các cơ sở đào tạo được tự chủ trên nhiều phương diện, rõ ràng chất lượng của công tác đào tạo tiến sĩ sẽ quyết định “thương hiệu” của mỗi cơ sở đào tạo. Bằng tiến sĩ do cơ sở đào tạo cấp cho nghiên cứu sinh có giá trị hay không, chính do việc cơ sở đào tạo tổ chức quá trình đào tạo như thế nào?

Là cơ sở đào tạo có bề dầy lịch sử phát triển lâu năm nhất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo, có đội ngũ giảng viên có uy tín, có chất lượng đào tạo đã trở thành thương hiệu..., đây là những ưu thế mà không phải cơ sở đào tạo nào cũng có được. Mặt khác, nhu cầu về đội ngũ giảng viên đạt trình độ tiến sĩ, nhất là các trường đại học văn hóa, nghệ thuật phía Nam rất lớn. Đây cũng là cơ hội cho công tác đào tạo tiến sĩ của Viện những năm sắp tới.

Những năm gần đây, trụ sở làm việc của Viện đã được lãnh đạo Bộ quan tâm đầu tư, nâng cấp. Khoa Sau Đại học đã có cơ sở vật chất khang trang, hiện đại hơn trước, đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác đào tạo ngày càng mở rộng.

Bên cạnh cơ hội, công tác đào tạo tiến sĩ của Viện đang đứng trước không ít  thách thức, khó khăn. Hiện nay đã xuất hiện thêm một số cơ sở đào tạo tiến sĩ ngành văn hóa nghệ thuật (năm 2013 Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội mở mã ngành Lý luận và Lịch sử Sân khấu, Lý luận, lịch sử và phê bình điện ảnh - truyền hình; năm 2014 Đại học Mỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh mở mã ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật; năm 2014 Đại học Văn hóa Hà Nội mở mã ngành Quản lý Văn hóa). Điều đó đặt ra những thách thức mới đối với việc duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo, bảo vệ “thương hiệu” đã có của Viện.

Về triển khai đào tạo các học phần tiến sĩ, chuyên đề tiến sĩ cho các chuyên ngành, có thể thấy xác định nội dung khoa học cho các học phần này, trong tương quan đồng tâm với nội dung khoa học của bậc đại học, bậc thạc sĩ cùng chuyên ngành không phải là chuyện dễ dàng. Làm sao xác định được những kiến thức hiện đại, vừa cập nhật, không “tụt hậu” với mặt bằng kiến thức cùng chuyên ngành trên thế giới, vừa mang bản sắc Việt Nam, là công việc lâu dài, khó khăn, không thể hoàn thành trong một sớm một chiều.

  Về đội ngũ giảng viên, do những điều kiện khách quan, một số các chuyên ngành nghệ thuật như mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh - truyền hình đang thiếu vắng các chuyên gia đầu ngành. Qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về số lượng giảng viên cơ hữu cho một mã ngành: tiêu chuẩn 5-3-1 (5 tiến sĩ cùng ngành, 3 tiến sỹ cùng chuyên ngành, 1 phó giáo sư hoặc giáo sư cùng ngành), về cán bộ khoa học (GS, PGS, TSKH, TS) được hướng dẫn bao nhiêu nghiên cứu sinh sẽ khiến Viện gặp khó khăn không nhỏ trong việc triển khai công tác đào tạo của các chuyên ngành nghệ thuật. Do vậy, một mặt phải tăng cường số lượng giảng viên cơ hữu của Viện, mặt khác, phải tăng cường số lượng giảng viên thỉnh giảng, giảng viên kiêm chức. Có vậy, dần dà, Viện mới đáp ứng được yêu cầu về số lượng giảng viên cho các chuyên ngành đào tạo hiện có và sẽ có sau này.

Về đội ngũ nghiên cứu sinh, những quy định mới trong Thông tư số 08/2017/TT-BGDDT ngày 04 tháng 4 năm 2017 ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ như: các điều kiện cứng về ngoại ngữ, bài báo khoa học, công bố quốc tế, hoạt động nghiên cứu khoa học trong thời gian đào tạo, viết luận án và bảo vệ luận án... là những thách thức không dễ dàng vượt qua đối với nhiều nghiên cứu sinh. Phải nói thẳng thắn rằng, các nghiên cứu sinh lâu nay chưa quen với cách nghiên cứu: trên một nền tảng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu, từ tổng quan tình hình nghiên cứu nêu ra những luận điểm khoa học mới, biện luận và bảo vệ cho luận điểm mới ấy của mình. Mặt khác, các nghiên cứu sinh của Viện là những người vừa đi làm, vừa đi học, vừa là giảng viên vừa là nghiên cứu sinh, vừa làm công tác quản lý, nghiệp vụ vừa làm nghiên cứu, nên sẽ gặp không ít khó khăn.

Về nguồn kinh phí phục vụ cho công tác đào tạo, gần đây lãnh đạo Bộ và Vụ Kế hoạch, Tài chính đã tạo điều kiện rất nhiều cho công tác đào tạo tiến sĩ, nhưng từ phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, qui định ngân sách dành cho đào tạo sau đại học vẫn chưa thay đổi. Thành ra, dù Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có cố gắng, vẫn chưa thay đổi được tình hình. Đáng lưu ý là trong nguồn kinh phí ấy không có nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu sinh nghiên cứu khoa học. Phải nói rằng, đây là thách thức không nhỏ, để nâng cao chất lượng công tác đào tạo tiến sĩ của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.

Hai nhăm năm tính từ tháng 4/1991 đến tháng 7/2017, Viện đã đào tạo được 153 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Nhà nước/cấp Viện. Thống kê theo các chuyên ngành, Viện đã đào tạo cho ngành và cho xã hội 25 tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật; 8 tiến sĩ chuyên ngành Nghệ thuật Âm nhạc; 32 tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học; 31 tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Văn hóa; 18 tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian; 25 tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật; 10 tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nghệ thuật Sân khấu; 4 tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nghệ thuật Điện ảnh - Truyền hình. Con số ấy chưa phải là nhiều, nhưng đã góp phần xứng đáng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành Văn hóa Thông tin trước đây, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay.

Nhiều luận án tiến sĩ sau khi bảo vệ, công bố đã được nhận giải thưởng của các hội nghề nghiệp chuyên ngành trung ương như luận án của các NCS: Đỗ Thị Hương (đã mất), Ngô Phương Lan, Nguyễn Đăng Vũ, Phan Quốc Anh, Đỗ Lan Phương, Hoàng Minh Phúc, Đỗ Lệnh Hùng Tú, Hoàng Mạnh Thắng, Trần Thị Thủy, v.v... Luận án tiến sĩ của NCS Ngô Phương Lan đã được dịch sang tiếng Anh và một nhà xuất bản ở Australia xuất bản phục vụ đông đảo bạn đọc nước ngoài và mới đây đã được Chủ tịch nước trao tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Cho đến nay, những cán bộ được đào tạo tại Viện, sau khi nhận học vị tiến sĩ, qua một thời gian nghiên cứu, đào tạo, nhiều vị đã được Hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước công nhận Giáo sư, Phó giáo sư, đã và đang phát huy tốt vai trò của những nhà khoa học đầu ngành trong nghiên cứu, trình diễn, quản lý văn hóa nghệ thuật. Có thể kể đến các vị tiêu biểu như: GS.TS. Ngô Văn Thành, nguyên Giám đốc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam; GS.TS Nguyễn Chí Bền, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam; PGS.TS. Văn Thị Minh Hương, nguyên giám đốc Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS Trần Văn Ánh, nguyên hiệu trưởng Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS. Phan Thị Bích Hà, nguyên hiệu trưởng Đại học Sân khấu - Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS. Nguyễn Phúc Linh, nguyên Phó Giám đốc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng, nguyên Phó hiệu trưởng Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm, nguyên Phó giám đốc Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS. Nguyễn Văn Cần, nguyên Phó hiệu trưởng Đại học Văn hóa Hà Nội; PGS.TS Đỗ Lai Thúy, nguyên Phó Tổng biên tập tạp chí Văn hóa Nghệ thuật; PGS.TS Nguyễn Văn Cương, Hiệu trưởng Đại học văn hóa Hà Nội; PGS. TS. Phan Thanh Bình, Hiệu trưởng Đại học Nghệ thuật Huế; PGS.TS. Lê Văn Sửu, Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật Việt Nam; PGS. TS. Vũ Ngọc Thanh, Hiệu trưởng trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh; PGS.TS Huỳnh Văn Tới, TVTU, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Đồng Nai; PGS.TS. Triệu Thế Hùng, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; PGS.TS. Lương Hồng Quang và PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Phó Viện trưởng Viện VHNTQGVN; PGS.TS. Lâm Nhân, Phó hiệu trưởng Đại học Văn hóa thành phố HCM; PGS.TS. Nguyễn Xuân Tiên, Phó Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh; PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực III; TS. Hoàng Thị Hoa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; TS. Nguyễn Khắc Khanh, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục An ninh Thông tin truyền thông (Bộ Công an); TS.Trương Phi Đức, Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh;  TS. Nguyễn Văn Tình, nguyên Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế; TS. Ngô Phương Lan, Cục trưởng Cục Điện ảnh; TS. Phan Quốc Anh, nguyên giám đốc Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Thuận; TS. Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi; TS. Hoàng Minh Khánh, Hiệu trưởng Trường Trung học Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam; TS. Phạm Bá Toàn, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Quân đội nhân dân; TS. Vũ Mạnh Hà, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh; TS. Lê Thị Minh Lý, nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa; TS. Phạm Thị Thu Hương, Phó hiệu trưởng Đại học văn hóa Hà Nội; TS. Vũ Phương Hậu, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển; TS. Nguyễn Văn Minh, Phó Hiệu trưởng Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, v.v...

Tựu trung, hai nhăm năm không phải là dài so với dòng lịch sử, nhưng với một viện nghiên cứu vừa làm công tác nghiên cứu khoa học, vừa làm nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ, đó là một chặng đường dài mà cả đội ngũ làm công tác quản lý, cả giảng viên và đội ngũ nghiên cứu sinh của Viện đã cố gắng hết sức mình, và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Đó là sự kết tinh của mồ hôi, trí tuệ của cả đội ngũ giảng viên, lẫn đội ngũ nghiên cứu sinh suốt hai nhăm năm qua.

Trong những ngày vui kỷ niệm 25 năm đào tạo tiến sĩ, các thế hệ cán bộ làm công tác đào tạo của Viện và nghiên cứu sinh 20 khóa bày tỏ lòng biết ơn tới lãnh đạo Bộ Văn hóa - Thông tin trước đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hiện nay, lãnh đạo Bộ Giáo dục và đào tạo, Vụ Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quan tâm, tạo điều kiện cho cơ sở đào tạo tiến sĩ của Viện phát triển. Đồng thời, chúng tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn với công lao khai mở, xây đắp nền tảng công tác đào tạo của các vị nguyên lãnh đạo Viện như cố GS.TS. Lê Anh Trà, GS.TSKH. Tô Ngọc Thanh, TSKH. Phan Hồng Giang, GS.TS. Nguyễn Chí Bền, và nhất là sự hợp tác hết mình của các nhà khoa học trong và ngoài nước trong công tác đào tạo tiến sĩ của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.

Chặng đường sắp tới, công tác đào tạo tiến sĩ của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam đứng trước đòi hỏi của sự đổi mới và phát triển, để trở thành một trung tâm đào tạo tiến sĩ ngang tầm với khu vực và châu Á, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao của ngành văn hóa, thể thao và du lịch. Hy vọng, với sự tâm huyết của đội ngũ giảng viên, sự cố gắng không mệt mỏi của nghiên cứu sinh các khóa, điều ấy sớm trở thành hiện thực./.

Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 2017

GS.TS. Nguyễn Chí Bền, nguyên Viện trưởng

                                                              PGS.TS. Từ Thị Loan, quyền Viện trưởng

 

ẤN PHẨM

Giới thiệu ấn phẩm sách và tạp chí hàng năm

Thông tin website

TRANG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
+ Cơ quan chủ quản: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.
+ Giấy phép số 348/GPSĐBS-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 09/07/2015
+ Người chịu trách nhiệm chính: PGS.TS. Bùi Hoài Sơn.

Địa chỉ: 32 phố Hào Nam - quận Đống Đa - Hà Nội.
Điện thoại: (84-4) 38569162 - (84-4) 35111095.     Fax: (84-4) 35116415.
Email: info@vicas.org.vn
Website: http://vicas.org.vn

Ghi rõ nguồn "VICAS" khi phát hành lại thông tin từ website này.